Công dụng, cách dùng Rau mát | Hatgiongtihon.net

1. Định nghĩa

  • Cây thủy sinh, dài 25-30 cm. Thân cây nhỏ, hình trụ, mọc thẳng trong bùn, bén rễ ở các nơi.
  • Lá mọc so le, rộng, dài tới 7 cm, rộng 4 cm, gốc hình tim, đầu nhọn, nhẵn cả hai mặt, mặt đen bóng, nhiều gân hình vòng cung, nổi rõ ở gốc; Cuống lá rất dài, phồng lên ở gốc và có tai ngắn.
  • Cụm hoa mọc thành chùm ngắn hơn kẽ lá, 2,5 hoa, mọc giữa các cuống lá, hoa màu xanh; 3-đài hoa; Đài hoa 5 cánh rộng hơn đài hoa; Nhị 6, đôi khi 3 hoặc 4, thường là 5.
  • Quả nang, dài 5 – 9 mm, rộng 4 – 8 mm.
  • Thời kỳ ra hoa: tháng 10-12.

2. Phân bố, sinh thái

Bỏ qua Monochia Presl ở Việt Nam có 6 giống. Các loài rau ưa mát trên đây là loại cây thông thường, phân bố rộng khắp nơi, từ đồng bằng đến miền núi, có độ cao dưới 1.000m. Loài cũng phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt đới Đông Nam Á, Ấn Độ và Nam Trung Quốc.

Rau mát là thực vật của nước ngọt. Cây thường mọc phân tán hoặc chặt ở các vùng đất thịt pha sét, xói mòn (sâu) ao, mương, ruộng trũng… Cây tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt và loại bỏ chồi ở rễ, thân rễ.

Các danh mục được sử dụng:

Toàn bộ cây.

3. Công thức hóa học

  • Ngoài rễ, các bộ phận khác của cây đều được dùng làm rau ăn.
  • Rau mát chứa 3,1% protein, 8,2% glucid, 1,7% chất xơ, 2,6 mg% caroten và 26,2 mg% vitamin C.

4. Hương vị, để làm việc

Vị thuốc mát có vị hơi đắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chỉ thống, lợi tiểu.

Theo tài liệu của Trung Quốc, sách “Nam Ninh thị dược thảo” ghi: vị thuốc lạnh, vị ngọt, tính mát; còn sách “Thiểm Tây trung chí” ghi: vị đắng, tính bình. Về công năng, rau sam có tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu thũng, chỉ lỵ. [TDTH, 1996: 2058].

5. Sử dụng

Toàn cây dùng để giải nhiệt, chữa cảm sốt, đau dạ dày, bệnh thổ huyết. Ngày 15-20g (mới tiêu dùng 30-60g) sắc nước uống. Để chữa sưng lợi nóng, lấy rễ (hoặc cả cây) sắc lấy nước, cố gắng để nước tiếp xúc với chỗ bị bệnh.

Thân và lá rau mát được dùng làm thức ăn cho lợn. Bề bề và lá non có thể dùng thay rau xào, nấu canh hoặc nấu canh ăn. Hoa cũng có thể ăn được, có tác dụng giải nhiệt.

  • Ở Campuchia, hoa và rau được bán trên thị trường và ăn với nước mắm nóng. Toàn cây được lọc để hạ nhiệt và chữa cháy nắng.
  • Ở Myanma, toàn cây được dùng chữa rối loạn ăn uống, hen suyễn, đau răng [Perry et al., 1980: 329].
  • Ở Indonesia, nước sắc rễ dùng chữa bệnh dạ dày, bệnh gan, đau răng, hen suyễn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud

0989796297