Công dụng, cách dùng Mướp khía | Hatgiongtihon.net

1. Định nghĩa

  • Là loại cây nhỏ, hàng năm, mọc thành tua. Thân mỏng xoắn, vết cắt xẻ đôi. Lá mọc so le, hình bầu dục dài, nông và thẳng, gốc hình tim, đầu nhọn, viền hình chữ nhật, mặt trên màu nâu, mặt dưới màu nâu.
  • Hoa đực và hoa cái cùng gốc, mọc ở kẽ lá, rất vàng; hoa đực phân nhóm, nhị 2-3; Hoa cái đơn tính, thuôn dài.
  • Quả hình câu lạc dài, có 10 cạnh lồi; Hạt xù xì, không có cánh.
  • Mùa hoa quả: tháng 4-6.

2. Phân bố, sinh thái

Cây mướp có nguồn gốc từ Ấn Độ, ngày nay quần thể vẫn mọc hoang cùng với dân trồng trọt. Tuy nhiên, trong cộng đồng trồng mướp, qua quá trình chọn lọc và thực hiện, đã có một số giống mướp với kích thước và đặc tính khác nhau thích nghi với vùng trồng. Nó được trồng rộng rãi ở các nước Á nhiệt đới, như Ấn Độ, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Campuchia … Ở Việt Nam, nó được tìm thấy ở các tỉnh phía Nam, nhưng nhìn chung vẫn thuộc loài. mướp chung (L. ridndrica) L.).

Bí đao là cây ưa sáng, ưa ẩm và phát triển nhanh trong vụ xuân hè. Cây trồng ở miền Nam trong thời gian khô hạn này nên phải tưới nước thường xuyên. Dưa lưới cho nhiều trái và được côn trùng thụ phấn rất cao.

Mướp là một loại cây thông thường; quả nhỏ, hoa (đực) làm rau; Xơ mướp được dùng làm thuốc chữa bệnh. Việt Nam đã từng xuất khẩu mặt hàng này.

3. Các thành viên đã sử dụng

  • Toàn bộ cây bao gồm dây, lá và hạt.
  • Để lấy mướp, người ta thu hái quả chín vào mùa hè, mùa thu khi da bắt đầu vàng và có xơ trong ruột, loại bỏ vỏ, hạt, phơi khô xơ.

4. Công thức hóa học

Mướp hương chứa saponin triterpenoid A, B, C, D, E, F, G (Chem, pharm Bull. 1991, 39, 599; CA. 115, 1991, 89108e).

Toàn cây cũng chứa các protein có ảnh hưởng đến các ribosome không hoạt động (Rhifaozom inactifying protein) n trichokirin, trichosanthin, momordin, plys ° n momorcodin s … (CA 120, 1994, 71903 d).

Nhân chứa 39,88% protein thô, 48,41% chất béo, 1,89% chất xơ, pentosan 2,24%, đường khử 3,61% và tro 4,77%.

Hạt chín chứa 19,9% chất màu nhạt, có các đặc điểm sau:

n25 = 1.4681, chỉ số xà phòng 188.5, chỉ số iot 9.57, axit béo tự do (oleic) 1.1%, phần không tan 1%. Thành phần của axit béo đầu chứa 24,13% axit béo, 38,98% axit oleic và 37,09% axit linoleic (Tài nguyên Ấn Độ VI. 1962. 178). Hai hợp chất, 3 – 28 – o heptaglycoside bidesmosidic của axit oleanolic, acutoside H và acutoside tôi đã tách ra khỏi hạt. [O – a – L – arabinopyranosyl] – (1 – »3) – (3 – D. axit glucopyranosyl uronic) Sự khác biệt giữa hai chất là chúng tham gia vào chuỗi đường este.

Acutoside H là 28 – o [O – |3- D – xylopyranosyl – (l-*3)-0-P-D – xylopyranosyl (1 -> 4) [O – p – D – xylopyranosyl (1 —»3)-0-a-L rhamnopyranoxyl (1 -» 2) – a. L – arabinopyranosyl] este.

Acutoside Tôi có 28 – o – [-0 – a – L – arabinopyranosyl (l->3)-0-p-D – xylopyranosyl (1 -» 4) [O – p – D – xylopyranosyl (1 -» 3)] – o – a – L – rhamnopyranosyl (1 -> 2) a – L – arabinopyranosyl]este (CA 115, 155044 f, 1991)

Hạt dưa hấu cũng chứa một protein phá thai, kích hoạt các ribosom (CA. 115, 1991, 127423 p).

Ngoài ra, trong hạt còn chứa các hợp chất ức chế men trypsin (trypsin ức chế) LA1, LA2.

5. Sử dụng

Ở Ấn Độ, cây có tác dụng nhuận tràng và làm sạch, được sử dụng để chữa bệnh ngoài da và hen suyễn, làm thuốc lợi tiểu và chữa bệnh lá lách to. Trái cây sấy khô với bột là một phương thuốc chữa bệnh vàng da. Hạt còn có tác dụng gây nôn, long đờm và giải nhiệt. Ở Indonesia, hạt được dùng để chữa bệnh sốt rét và các bệnh sốt khác, và hạt được nghiền mịn sống hoặc trộn với mủ sữa. Ở Malaixia và Ấn Độ, nước sắc thảo mộc được dùng để chữa nhiễm trùng đường tiết niệu, cảm sốt, tăng lực và làm thuốc điều kinh. Ở Thái Lan, người ta dùng rễ, thân, lá của cây mướp để chữa bệnh cảm cúm. Ở Campuchia, người ta uống nước ép từ thân và rễ để lấy sữa, và dùng thân của cây mướp kết hợp với các loại cây khác để làm nước súc miệng.

* Nguồn: Cây thuốc và thú y Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud

0989796297