Công dụng, cách dùng Canh kina | Hatgiongtihon.net

Kina Soup 1

Hình ảnh của súp kina

Tùy theo mục đích chữa bệnh hoặc làm nguyên liệu chiết alcaloid mà người ta dùng vỏ cây canhkina làm thuốc khác nhau:

    1. Để làm tiêu tấn và chữa cảm mạo, người ta thường dùng vỏ cây súp đỏ (Cinchona succirubra Pavon.)
    2. Để loại bỏ hết alcaloid, người ta có thể dùng vỏ hoặc vỏ cây canhkina đỏ. súp vàng Cinchona calisaya Vedd, hoặc cankina Cinchona ledgeriana Moens.
    3. Phloem súp xám (Cinchona officinalis L.) Nó thường được sử dụng như một loại rượu khai vị.

Ở nước ta, vỏ cây Canhkina được nhiều người biết đến và sử dụng từ đầu thế kỷ 20. Nhưng tất cả các cây thuốc đều phải nhập khẩu vì thuốc có xuất xứ từ Nam Mỹ.

Năm 1925, thực dân Pháp xâm lược thành công Canhkina ở một số vùng miền Nam và Bắc nước ta. Nhưng cung không đủ cầu. Người ta thấy canh có vị đắng, cho vào rượu có màu đỏ, có tác dụng bổ, chống sốt rét nên gọi các cây thuốc khác có tác dụng tương tự như cankina hay kynin, hoặc cây thuốc nam. sốt. Chúng thực sự là những cây thuốc đến từ các họ thực vật hoàn toàn khác nhau. Chúng ta cần chú ý để tránh nhầm lẫn.

  • Một số loài thực vật được sử dụng cho những mục đích sai lầm đó là “rượu ky” – Tinospora crispa thuộc họ Dê, “ô rô” – Cassia grandis thuộc họ Đậu, cây “dền” – Xylopia vielana thuộc họ Na, “sữa” cây – học giả Alstonia thuộc họ trúc đào …

A. Mô tả cây

  • Canhkina là những cây gỗ nhỏ hoặc lớn cao khoảng 15-20m.
  • Các lá mọc đối, màu xanh lá cây, có hai lá kèm theo liên tục rụng. Phiến lá hình trứng, có gân lông chim. Ở một số loài như cankina xám, ở góc của động mạch trán và động mạch thứ hai có những túi nhỏ mang lông.
  • Hoa mọc thành chùm ở đầu chũm, hoa thường, mẫu 5, cánh hoa màu trắng hoặc hơi hồng, luôn thơm. Đài hoa có 5 răng, tràng hoa hình ống, ống vòi, và 5 thùy, 5 nhị nhúng trong ống tràng. Ở hầu hết các loài đều có hoa với nhị hoa dài hoặc ngắn bất thường. Bầu noãn hai chiều phía dưới, có nhiều noãn. Hạt nhiều, nhỏ, dẹt và có đầu tăm.

B. Phân phối, thu thập và xử lý

Tất cả các loại canhkina đều có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Canhkina mọc hoang trên các sườn phía đông của phạm vi 4.000km, rộng 75 đến 100km, từ vĩ độ 10 ° bắc đến vĩ độ 22 ° nam của Colombia, Equate, Peru, và Bolivia. Khu vực có cây trám mọc hoang ở độ cao từ 1.500 đến 3.000m, nhiệt độ từ 15 °, ít dao động, lượng mưa nhiều và độ ẩm cao.

Ở Việt Nam, canhkina mọc chủ yếu trên đất đỏ trên cao nguyên Lang Biang (miền Trung).

C. Thành phần hóa học

Vỏ canhkina thường chứa từ 8 đến 10% nước, 4 đến 5% chất hữu cơ, ít tinh bột, gôm, ít tinh dầu, sterol (canhkina được định nghĩa là 3 sitosterol).

Axit Quinic (hexahydrotetrahydroxybenzoic) được chiết xuất từ ​​vỏ cây cankina vào năm 1790, nhưng phải một thế kỷ sau, cấu trúc này mới bị cắt bỏ:

  • Chất tannin catechic (còn gọi là axit quinitanic) chiếm từ 3 đến 5% trong vỏ cây.
  • Những tannin này khi bị oxy hóa sẽ tạo ra một phlobaphen gọi là cankina đỏ.

Một chất đắng gọi là quinovin, được sản xuất bởi Peletier và Caventou vào năm 1821. Năm 1859, Halsivetz được chứng minh là một glucoside.

Hoạt chất chính của Canhkina được coi là ancaloit chiếm từ 3 đến 15% vỏ cây thuốc Canhkina.

  • Các nghiên cứu về các ancaloit này đã được tiến hành trong một thời gian dài, vì trước năm 1850, bốn loại ancaloit chính đã được phát hành.
  • Năm 1881, Gomes – người Tây Ban Nha đã chiết xuất được chất alkaloid đầu tiên từ vỏ cây canh và đặt tên là cinchonin.
  • Một vài năm sau, Peletier và Caventou đã giới thiệu lại cinchonin từ loài canhkina vỏ xám (C. officinalis). Năm 1820, Peletier và Caventou rút khỏi tán cây Canhkina c. cordifoiia Mutis là một ancaloit mới còn được gọi là quinin.
  • Ngoài 4 ancaloit chính, người ta có thể tách ra khỏi canh khoảng 20 ancaloit khác với hàm lượng thấp. Trong khi đó, người ta đang điều chế chất ancaloit cho vỏ cây canh

Trong lá của một số cây Canhkina, con người thường tiết ra rất ít ancaloit cần sa mà có từ 0,5 – 0,7% ancaloit indol như quinamin, xinchophyllamin và isoxinchophyllamin (theo Lemen và cộng sự, 1965).

D.Tác dụng dược lý

  • Vỏ Canhkina là một loại chất làm se (do tanin) và là vị thuốc bổ đắng, tác dụng chống sốt rét, chống sốt rét của vỏ Canhkina là do các ancaloit chủ yếu là quinin.
  • Quinin là chất gây độc tế bào, hoạt động trên động vật nguyên sinh: amip, ký sinh trùng sốt rét …. Trước đây, tác dụng chống sốt rét của cankina chỉ dựa vào kinh nghiệm của con người. Mãi cho đến năm 1880, sau khi Laveran phát hiện ra ngộ độc quinine chống lại bệnh sốt rét Plasmodium falciparum, người ta mới hiểu được phương pháp điều trị sốt rét bằng quinine. Quinin hoạt động chủ yếu ở dạng vô tính (schizonte) và dạng chưa trưởng thành, ít ảnh hưởng đến giao tử. Vì vậy, cần thiết phải uống thuốc ký sinh trùng giữa hai đợt sốt rét.
  • Quinin còn có tác dụng bất lợi đối với cơ sở sinh nhiệt đối với người bị cảm cúm, vì vậy quinin được dùng làm thuốc hạ sốt, nhưng đối với người bình thường, quinin ở liều điều trị không có tác dụng hạ sốt.
  • Ngoài tác dụng hạ sốt và chống sốt rét, quinin còn có tác dụng chống viêm và chống cúm, và có tác dụng an thần tối thiểu.
  • Người ta sử dụng quinin dưới dạng uống, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch. Quinin thường gây táo bón và loét chỗ tiêm, kích ứng bề mặt mạch máu. Quinin được bài tiết qua nước tiểu.
  • Ở liều cao, quinin là tác nhân trung khu thần kinh nên có thể gây ra các triệu chứng như ù tai, hoa mắt, chóng mặt. Nó làm hạ nhịp tim, kích thích cơ trơn, quinin cũng là thuốc bổ nhưng chỉ có tác dụng dưỡng thai với liều lượng cao.
  • Một số cankina alkaloid cũng có tác dụng hạ sốt và chống sốt rét, nhưng ít hiệu quả hơn và có tác dụng phụ. Quinidin có tác dụng kích thích cơ tim, được dùng để chống suy tim sung huyết và kiểm soát nhịp tim.

E.Cách sử dụng và liều lượng

  • Vỏ của cây xạ can được dùng làm thuốc chữa cảm mạo, sốt rét, amidan (thường là vỏ cây xạ đen). Với liều lượng từ 1 đến 5 hoặc 10g mỗi ngày dưới dạng viên bột, viên nén.

Vì đắng nên thường được chế biến thành cao rồi vo thành viên. Súp đỏ được làm như một loại thuốc bổ dưới dạng rượu và thêm đường. Bột Canhkina dùng để xịt vết thương, vết loét.

  • Vỏ cây Canhkina được sử dụng chủ yếu làm nguyên liệu để chiết xuất alkaloid và quinine. Quinin được dùng làm thuốc hạ sốt và sốt rét với liều 1 đến 2g mỗi ngày, chia làm nhiều lần, mỗi lần 0,50g.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud

0989796297