Công dụng, cách dùng Bào ngư | Hatgiongtihon.net

1. Định nghĩa

  • Bào ngư là một loài ốc có cấu tạo đặc biệt, thuộc họ nhuyễn thể, có vỏ cứng bao lấy thân rộng, phần tròn hẹp tạo thành tấm thảm phẳng có khối hình bầu dục khum, mặt ngoài xù xì, hóa gỗ. màu nâu và xanh lục, mặt trong nhẵn có nhiều hạt xà cừ óng ánh, ở mép có 7-13 lỗ đậu nhỏ xếp thành hàng đều đặn không có nắp, thường là 9 (nên có tên là Cửu Không), có một số lỗ. . nó sụp đổ, chỉ còn đường thở.
  • Phần thân của bào ngư được các cơ bám vào mặt trong của vỏ. Chân bào ngư là một mô mềm dính vào thân, rộng xung quanh đầu vỏ, thường có tính đàn hồi để di chuyển, nắm chặt hoặc thu hẹp lại trong vỏ khi chạm hoặc cầm.

2. Phân bố, sinh thái

  • Bào ngư phân bố ở các vùng biển ấm, đặc biệt là trên các đảo và bãi đá ngầm có độ sâu từ 2 đến 12m, độ mặn cao và nước trong, có nhiều tảo, đặc biệt là bào ngư (Sargassum). Bám chặt vào đá để chúng có thể chống chọi với sóng cao, gió lớn trên biển. Nó đặc biệt hiệu quả trong việc cho ăn rong biển, tảo phong phú.
  • Mùa sinh sản tháng 1-2. Bào ngư có nhiều ở Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Cô Tô (Quảng Ninh) và các đảo khác của Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam – Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Bình Định, Khánh Hòa và Bình Thuận.
  • Ở Việt Nam, mới chỉ tìm thấy ba loài: bào ngư đen (Haliotis ovina Gmelin), bào ngư có râu (Haliotis binina L.) và bào ngư chín lớn (Halintis seekicolor Reeve).
  • Tại địa phương, ngư dân sử dụng bào ngư thỉnh thoảng và tự động, sau đó thu gom và bán chúng cho thương nhân để xuất khẩu. Hiện nay, Việt Nam và nhiều nước trong khu vực có kế hoạch nuôi trồng bào ngư trong hang để có thể đánh bắt, sử dụng và bảo vệ cẩn thận nguồn tài nguyên quý giá này.

3. Các thành viên đã sử dụng

Vỏ bào ngư tên y học cổ truyền là nha đam (người Trung Quốc gọi là Quảng bào thạch). Thịt bào ngư (bào ngư đã khử). Tất cả đều được tìm thấy trong ba loài bào ngư được tìm thấy.

Cách lấy vỏ:

Bào ngư được đánh bắt về, rửa sạch cát và tảo bám trên vỏ, sau đó rửa sạch bằng nước muối, sau đó, lột vỏ, lấy thịt, bỏ ruột, phơi khô. Có khi người ta luộc cả con, lấy thịt, rửa sạch rồi dùng (cách này dễ làm nhưng dược liệu không ngon, kém chất lượng). Khi được sử dụng, sống hoặc nướng, nó là một loại bột. Ở Trung Quốc, người ta làm vỏ bào ngư bằng cách cho vỏ bào ngư vào lò hun khói, nung cho đến khi hơi hồng, chiết lấy ra rồi rưới nước muối theo tỷ lệ 0,28kg muối trên 1 kg vỏ. Để khô và xay thành từng miếng nhỏ. Gel điều trị có hình bầu dục hoặc gần bán cầu, bên trong giống tai người, dài 3,5-8,5cm, rộng 2,5-5,5cm. Mặt ngoài của vỏ màu xám, mặt trên lồi lên và có nhiều đường gân nổi sắp xếp phức tạp theo chiều dọc từ nhỏ nhất sang phải, các lỗ nhỏ gắn ở cuối vỏ, mặt trong sáng. như một hạt. Vật liệu rắn chắc, khó vỡ. Vỏ dày và dày, hoàn hảo, không nứt nẻ, bên ngoài sạch, bên trong trắng mịn.

4. Công thức hóa học

Vỏ bào ngư chứa nhiều canxi cacbonat. Thịt bào ngư rất giàu chất dinh dưỡng, với tỷ lệ protein, lipit và vitamin cao.

5. Hương vị, để làm việc

Theo tài liệu cổ, vỏ bào ngư có vị mặn, tính bình, không độc, có tác dụng bổ gan thận, thanh nhiệt, lợi tiểu, sáng mắt. Thịt bào ngư thơm ngon, có vị mặn, tính nóng, bổ dưỡng, bồi bổ cơ thể, làm tóc bạc lâu, trừ ho, lợi sữa.

6. Sử dụng

  • Vỏ Bào ngư: Được sử dụng từ thế kỷ 14, chủ yếu chữa chóng mặt, đau đầu trắng, di tinh, mộng mị, mắt mờ, ngoài ra còn có thể trị tiểu buốt, tiểu rắt, đau bụng, thổ huyết. Mỗi ngày dùng 4-8g dạng bột hoặc 15-30g dạng thuốc sắc.
  • Thịt bào ngư: Về mặt thực phẩm, bào ngư là một trong tám món ăn “cao lương mỹ vị” (ngọc trai) phổ biến nhất của phương Đông, cũng như yến sào, hải sâm, cánh cá. … Thịt bào ngư băm nhỏ có mùi hương hoa trái thơm ngon gợi cảm, tinh tế.
  • Thịt bào ngư khô cũng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cạnh tranh với các loại chim yến. Giá bào ngư không ngừng tăng cao trên thị trường toàn cầu, có khi vượt giá yến sào. Theo kinh nghiệm của nhân gian, thịt bào ngư nấu với gạo nếp trong nước dừa xay nhuyễn cho sản phụ ăn trong vài ngày là tăng tiết sữa.
  • Người dân trên đảo Bạch Long Vĩ coi bào ngư là vị thuốc chống lão hóa. Người ta nói rằng những người ăn bào ngư mỗi tháng một lần sẽ sống lâu hơn. Ở Trung Quốc, thịt bào ngư được dùng làm món ăn – bài thuốc bổ huyết, hạ huyết áp: Bào ngư tươi (50g) cắt miếng rồi cho tỏi (5g), hành (5g) vào nấu với huyết sò (7,5g). ). ), sơn tra (7,5g) và nước luộc gà (400ml). Ăn cả cơm và nước mỗi ngày một lần. Thịt bào ngư khô (20-25g) nấu với củ cải, ăn hàng ngày có tác dụng chữa bệnh tiểu đường.

7. Thuốc bào ngư

  • Trị đau mắt đỏ, nhỏ mắt, đau nhức ban đêm: Vỏ bào ngư nướng thành vôi, cỏ nhọ nồi (mộc nhĩ) phơi khô. Hai thứ lượng bằng nhau, đất mịn, lọc lấy bột mịn. Mỗi lần uống 12g, hòa với nước cùng 3 lát gừng và táo, phần còn lại ăn. Làm hai lần một ngày (thần dược).
  • Điều trị quáng gà (Tổng số): Vỏ bào ngư (16g), sơn tra (16g), ô dược (16g), cúc hoa (12g), bạch truật (12g), quả gừng (12g), bạch truật (12g), gạo (12g)), trạch tả ( 12g), đơn bì (12g), thục địa (12g). Tất cả phơi khô, xay nhỏ, tán thành bột mịn, trộn với mật ong làm viên uống. 20g mỗi ngày, chia thành hai phần.
  • Trị đau mắt, sợ chói: Vỏ bào ngư, hoa cúc vàng và cam thảo (lượng bằng nhau) sấy khô, tán thành bột, mỗi ngày uống 4g. Nó có thể bị say.
  • Điều trị đau thần kinh tọa: Vỏ bào ngư (15g), xác rắn (15g), bạc hà (15g), cắt nhỏ, pha với rượu uống trong ngày.
  • Điều trị đục thủy tinh thể: Vỏ bào ngư (30g), bột sài hồ đen (10g), thuyền sậy (15g), xác rắn (15g), hà thủ ô (5g), sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày (Nước sắc mỗi lần).

Ghi chú: Trong số các loài bào ngư được tìm thấy, hai loài bào ngư hình tai và hình bầu dục có diện tích bảo quản hạn chế và có nguy cơ bị tuyệt chủng, nằm trong Sách Đỏ Quốc gia.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud

0989796297